Tiểu Sử Cố HòaThượng Thích Giác Sự

02/02/2011 // No Comment // Categories: Giới Thiệu // Tags: .

(TXNM): Kính thưa Toàn thể Quý độc giả kính mến! Chỉ còn ít bữa nữa là đã đến ngày lễ Húy kỵ của cố Hòa thượng Thích Giác Sự (04/01 âm lịch), vị khai sơn ra ngôi đạo tràng Tịnh Xá Ngọc Minh và cũng là vị Bổn sư tế độ cho Sư phụ Trụ trì Thích Giác Hiếu. Do nhân duyên đó Ban Biên Tập xin trân trọng giới thiệu đến toàn thể Quý độc giả gần xa về đôi dòng tiểu sử cũng như quá trình hành đạo của ngài, đó cũng là một phần nào thể hiện lòng thành kính dâng lên giác linh ngài.

THÂN THẾ:

Hoà thượng thích Giác Sự, thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, sinh năm 1930 tại làng Hà Úc huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Hoà Thượng sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống theo Phật Giáo. Thân phụ là cụ Ông Nguyễn Văn Trọng, thân mẫu là Cụ Bà Phạm Thị Di. Ông bà rất nhân hậu và hiền đức, luôn giúp đỡ những người nghèo khổ trong vùng và được mọi người rất kính trọng. Ngài là con trưởng trong một gia đình có 3 anh em.

Năm 1941 ngài theo gia đình vào Nam cư trú tại xã Hàm Đức, huyên Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Năm 1950, vâng lời song thân người kết duyên cùng với cô Trần Thị Thanh hạ sinh được 3 người con, 2 trai và 1 gái.

NHÂN DUYÊN XUẤT GIA:

Một hôm, trưỡng lão Giác Tâm pháp tử của tổ sư Minh Đăng Quang đi trì bình khất thực ngang qua nhà. Ngài sinh tâm cung kính thỉnh trưởng lão về tại tư gia cúng dường ngọ trưa và được nghe trưởng lão thuyết giảng về chơn lí đạo mầu. Tiếng pháp như đánh thức giấc ngủ dài bừng dậy, gợi lòng ngài nhớ về một cõi xa xưa thầm lặng và được sự trợ duyên của người bạn đời nên ngài về Tịnh xá Ngọc Cát phát tâm quy y với đức thầy Giác An, được đức thầy đặt pháp danh Thiện Nhu và trở thành người Phật tử tại gia trong chánh pháp. Lúc này ngài vừa tròn 35 tuổi.

THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO:

Năm 1966, căn lành tu tập nhiều đời sẵn có, ngài đã biết hướng tâm theo con đường Phật pháp. Nhận chân được giá trị đích thực của cuộc sống, giác ngộ được kiếp người là phù du ảo mộng, thế thái nhân tình là hệ luỵ bi thương. Ngài đến Tịnh xá Ngọc Cát cầu xin xuất gia với đức thầy Giác An, được đức thầy thọ ký pháp danh Giác Sự vào ngày tưởng niệm tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng. Ngày rằm tháng 7 cùng năm, ngài được thọ y bát sa di tại Tịnh xá Ngọc Phúc tỉnh Gia Lai. Thọ giới xong, ngài luôn xuyên năng hành trì giới luật, và cũng trong thời gian này ngài được đi về các miền Tịnh xá trong giáo đoàn để tham vấn Phật pháp với các bậc trưởng lão.

Năm 1970, đức hạnh đầy đủ, giáo pháp uyên thâm, ngài được bổn sư cho thọ cụ túc giới vào mùa Vu Lan tự tứ tại Tịnh xá Ngọc Bảo Phan Rang.

Năm 1971 đến năm 1974, ngài vân du hành đạo đến các miền Tịnh xá thuộc giáo đoàn III như: Tịnh xá Ngọc Quang TP Buôn Mê Thuộc, Tịnh xá Ngọc Đà TP Đà Lạt, Tịnh xá Ngọc Duyên ở Bình Định…

Năm 1975, với hạnh nguyện độ sanh ngài xin giáo đoàn về vùng đất hoang vu thuộc xã Tân Nghĩa, huyên Hàm Tân, tỉnh Bình Thuân, cùng với hoà thượng Giác Dũng khai sơn và tạo dựng Tịnh xá Ngọc Minh.

Từ ngày xuất gia học đạo cho đến ngày thọ cụ túc giới, ngài luôn tinh tấn tu hành. Buổi sáng thường đi khất thực hoá duyên, buổi chiều nghiên cứu kinh, luật, luận. Tối đến tụng kinh thuyết pháp cho hàng Phật tử tại gia, dù mệt mỏi nhưng khuya nào ngài cũng tham thiền quán chiếu nội tâm.

Năm 1992, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Bình Thuận và Hệ Phái Khất Sĩ đã bổ nhiệm ngài về Tịnh xá Ngọc Cát. Trong thời gian này ban đại diện Phật giáo TP Phan Thiết cung thỉnh ngài vào thành viên của ban đại diện để cùng lo Phật sự cho giáo hội. Ngài đã nổ lực hết mình hoằng dương Phật pháp, phát triển giáo hội và trùng tu xây dựng đạo tràng Tịnh xá Ngọc Cát ngày càng hưng thịnh, trở thành bậc thạch trụ của giáo hội cung như Hệ Phái Khất Sĩ tại tỉnh nhà. Với đức độ cao dày, giới đức trang nghiêm, ngài như một bóng cây đại thụ cho hàng đại tử xuất gia cũng như tại gia đến nương tựa để tu học.

Sau bao nhiêu năm hoằng dương Phật pháp, tiếp tăng độ chúng ngài đã đào tạo được một số đệ tử xuất gia như: Đại Đức Thích Giác Hiếu hiện trụ trì Tịnh xá Ngọc Minh, Đại Đức Thích Giác Thái quảng sự Tịnh xá Ngọc Cát, Đại Đức Thích Giác Thạnh hiện đang du học nước ngoài, Đại Đức Thích Giác Thiện và một số các vị khác hiện đang tu học tại Tịnh xá cũng như các học viện Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó đồ chúng Phật tử tại gia của ngài cũng đông vô số kể. Điều đó đã nói lên được đức tánh bao dung, đức hạnh trang nghiêm là một bài pháp sinh động bằng thân giáo của ngài làm cho đồ chúng kính phục, là một bậc lương đống trong chốn tòng lâm. Ban Trị Sự Phật Giáo Bình Thuận đã lập danh sách tấn phong Thượng Toạ tại Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc năm 2002 tại Hà Nội.

THỜI KỲ CUỐI ĐỜI VÀ VIÊN TỊCH:

Trong suốt 77 năm hiện thân giữa cuộc đời, 35 năm trả nghiệp trần thế, 42 năm tiếp nối thiện duyên theo con đường giải thoát. Hoà Thượng đã nhận chân được tứ đại vô thường, cuộc đời là khổ không vô ngã, nên trong những ngày cuối đời tuy lâm trọng bệnh nhưng ngài vẫn luôn an trú trong chánh niệm, gương mặt luôn hiện đầy hỷ lạc, đúng như lời giáo huấn của Tổ sư “ Ấn chứng của đạo là sự vui tươi”. Đúng vậy, Hoà thượng là hiện thân của từ bi, cuộc đời của ngài là một tấm gương mẫu mực cho hàng hậu thế noi theo.

Trong thời gian lâm trọng bệnh, mặc dù đã được các môn nhơn đệ tử cùng các y bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng thế sự vô thường, có sanh tất phải có diệt, nên ngài đã thuận thế vô thường xã bỏ báo thân, thâu thần thị tịch vào lúc 5 giờ 30 phút, ngày mùng 05 tháng giêng năm Đinh Hợi, nhằm ngày 21 tháng 02 năm 2007 tại Tịnh xá Ngọc Cát. Trụ thế 77 năm, 37 hạ lạp. Nhục thân của Ngài được trà tỳ và tôn thờ tại 2 bảo tháp Tịnh xá Ngọc Cát và Tịnh xà Ngọc Minh. Ban Trị Sự truy phong Ngài lên Cố Hoà Thượng.

NAM MÔ NGỌC CÁT TỊNH XÁ TRỤ TRÌ THƯỢNG GIÁC HẠ SỰ HOÀ THƯỢNG GIÁC LINH CHỨNG GIÁM.

Môn đồ pháp quyến đồng phụng soạn

Bài viết khác:

  1. Tiểu sử trưởng lão Giác An – Trưởng giáo đoàn III (1901-1971)

Phản hồi - Ý kiến