Sự Hình Thành và Phát Triển của Giáo Đoàn III Khất Sĩ

13/02/2011 // No Comment // Views: 78 views // Categories: Bài Viết + Tịnh Xá + Tiểu Sử, Giáo Đoàn III KS, Đặc biệt // Tags: .

(TXNM): Giáo đoàn III chủ yếu hoạt động ở khu vực duyên hải các tỉnh miền Trung như: Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định v.v… và các tỉnh Tây Nguyên như Lâm Đồng, Đăk Lawk, Gia Lai, KonTum… Tịnh xá Ngọc Tòng (Nha Trang) được làm tổ đình Nam Trung của Giáo đoàn, nơi này hằng năm tổ chức lễ Tưởng niệm Đức Tổ sư Vắng bóng (mùng 1 tháng 2) và năm nào lễ Vu lan bồn tự tứ Tăng không tổ chức ở các tịnh xá thì tổ chức tại đây.

Khi đoàn Du Tăng hành đạo ra miền Trung và quay trở vào miền Nam, Trưởng lão Giác An (còn gọi đức thầy Giác An) trụ lại miền Trung trải qua hơn 10 năm lập nên nhiều tịnh xá. Tính theo thời gian, các tịnh xá do đức thầy lập nên có: năm 1957 TX. Ngọc Cát (Bình Thuận); năm 1958 TX. Ngọc Pháp (Khánh Hòa), TX. Ngọc Rạng (Phú Yên); năm 1959 TX. Ngọc Phú (Phú Yên), TX. Ngọc Quang (Đăk Lăk); năm 1960 lập TX. Ngọc Phước (Khánh Hòa); năm 1961 TX. Ngọc Duyên, TX. Ngọc Long (Bình Định), TX. Ngọc Hải (Khánh Hòa), TX. Ngọc Bảo (Ninh Thuận), TX. Ngọc Đà (Lâm Đồng); năm 1962 TX. Ngọc Hòa, TX. Ngọc Sơn (Bình Định); năm 1963 TX. Ngọc Túc, TX. Ngọc Phúc (Gia Lai); năm 1964 TX. Ngọc Hạnh (Kon Tum); năm 1965 TX. Ngọc Trung (Gia Lai); năm 1966 TX. Ngọc Tòng (Khánh Hòa).

Năm 1971, chứng minh tổ chức lễ Vu lan bồn Tự tứ Tăng (rằm tháng 7) xong, qua ngày 16 đức thầy Giác An viên tịch tại tịnh xá Ngọc Cát (Phan Thiết). Tăng Ni, Phật tử cùng môn đồ cung nghinh nhục thân Ngài về trà tỳ tại tịnh xá Ngọc Tòng (tổ đình Nam Trung, xã Lương Sơn, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Tính đến khi đức thầy viên tịch, chư Tăng có khoảng 60 vị, bên Ni 10 vị và Giáo đoàn III có 19 tịnh xá. Những năm sau đó chư Tôn đức lập thêm các tịnh xá Ngọc Lương, Ngọc Thiền, Ngọc Minh vào năm 1972, tịnh xá Ngọc Tâm thành lập năm 1974.

Về tổ chức hành chánh của Giáo đoàn III, từ khi thành lập đến năm 1971, đức thầy Giác An là Trưởng Giáo đoàn, ĐĐ. Giác Lượng (nay là HT. Giác Lượng ở Mỹ) làm phụ tá. Ngày 29 tháng giêng âm lịch năm 1971 (trước khi đức thầy Giác An viên tịch), cơ cấu tổ chức hành chính Giáo đoàn như sau:

Trưởng đoàn: Đức thầy Giác An

Phó Trưởng đoàn: Trưởng lão Giác Phải (điều hành công việc khi Trưởng đoàn giao phó hoặc vắng mặt)

Trị sự trưởng: ĐĐ. Giác Lượng

Thư ký: ĐĐ. Giác Thảo

Ban Hành đạo: Chứng minh đức Thầy Trưởng đoàn; Trưởng ban ĐĐ. Giác Phải, Phó ban ĐĐ. Giác Phất, Thư ký ĐĐ. Giác Tôn (trưởng), ĐĐ. Giác Lộc (phó), các Ủy viên: quý Đại đức Giác Hoằng, Giác Dũng, Giác Dưỡng, Giác Hiền, Giác Chơn, Giác Xuân.

Ban Hoằng pháp: Trưởng ban ĐĐ. Giác Lượng, phó ban ĐĐ. Giác Đề. Các ủy viên: quý Đại đức Giác Hiền, Giác Dũng, Giác Hay, Giác Thảo, Giác Tôn, Giác Diệu.

Ban Kiểm soát: Trưởng ban ĐĐ. Giác Hoằng, Phó ban ĐĐ. Giác Tôn.

Sau khi đức Thầy viên tịch (1971), TL. Giác Phải làm Trưởng Đoàn, ĐĐ. Giác Lượng làm Trị sự trưởng đến năm 1976 giao lại cho TT. Giác Dũng, cũng năm ấy đại chúng cung thỉnh ĐĐ. Giác Phùng làm Thư ký.

Năm 1987 Ban Lãnh đạo Giáo đoàn được đề cử như sau: Trưởng đoàn TL. Giác Phất, Phó Trưởng đoàn TT. Giác Phúc; Trị sự trưởng TT. Giác Dũng, Phó Trị sự trưởng TT. Giác Đăng và TT. Giác Dũng, Phó trị sự trưởng TT. Giác Đăng và TT. Giác Thảo; Thư ký TT. Giác Phùng, Phó thư ký TT. Giác Thành; Ban Hoằng pháp TT. Giác Thảo (Trưởng) và các ủy viên gồm có 4 Thượng tọa Giác Phương, Giác Trí, Giác Minh và Giác Thành; Trưởng ban Giáo dục TT. Giác Thuận. Đến năm 1992 TT. Giác Phúc được đề cử làm Trưởng đoàn, 2 Phó Trưởng đoàn là TT. Giác Dưỡng, TT. Giác Đăng, các Ban khác vẫn giữ nguyên.

Ngày vía đức Quán Thế Âm Bồ tát 19 tháng 2 năm 2001 TL. Giác Phúc thuận thế vô thường quy tịch. Sau đó, cơ cấu Ban Lãnh đạo Giáo đoàn mới gồm: Trưởng đoàn HT. Giác Dũng, Phó Trưởng đoàn: TT. Giác Đăng, TT. Giác Thảo; bổ sung thêm Phó Thư ký TT. Giác Minh và 4 ủy viên hoằng pháp nữa là quý Đại đức Giác Duyên, Giác Hiếu, Giác Hoàng và Giác Viễn. Đến ngày mùng 1 tháng 2 năm 2010, Ban Thư ký Giáo đoàn đươc chư Tôn đức Lãnh đạo và đại chúng đề cử:

Thư ký: ĐĐ. Giác Duyên

Phó Thư ký: ĐĐ. Giác Hành, ĐĐ. Giác Hoàng.

Chư Tăng Ni sinh hoạt thời đức Thầy đến ngày giải phóng (30/4/1975) có những đặc điểm như tuyệt đối không ăn chiều, không giữ tiền, thường đi khất thực hóa duyên. Từ khi lập đoàn đến năm 1965 chư Tăng Ni ở mỗi tịnh xá 3 tháng rời đổi sang tịnh xá khác. Từ năm 1975, thời cuộc đổi thay, chư Tăng trụ xứ theo hộ khẩu, tự lao động tại địa phương nên sinh hoạt có thay đổi.

Chư Ni Phân đoàn 3:

Năm 1957, đức thầy Giác An lập Tăng Giáo đoàn III. Năm 1968, 6 vị Ni đã thọ Sa di ni đệ tử của cố Ni trưởng Ngân Liên ( Sư Bà số 5) tu học tại tịnh xá Ngọc Hải (Cát Lợi, Nha Trang) là quý Ni cô Liên Trường, Liên Nhung, Liên Pháp, Liên Sinh, Liên Tâm, Liên Thảo nhân đại lễ Tự tứ (rằm tháng 7) tại tịnh xá Ngọc Long (Diêu Trì, Quy Nhơn) xin chuyển sinh hoạt về Giáo đoàn III và được đức Thầy chấp nhận. Ngài nhận thêm cô Đạo và cô Cảnh vào xuất gia, giao 2 tịnh xá Ngọc Túc (An Khê) và Ngọc Hải (Cam Ranh) cho bên Ni trụ. Vài năm sau 6 Ni cô trên được thọ giới Cụ túc (Tỳ kheo ni) và đổi lại Pháp danh theo thứ tự lần lượt là Chiếu Liên, Đền Liên, Hiệp Liên, Duyên Liên, Lập Liên và Thông Liên. Cuối năm 1968 Ngài nhận thêm cô Tưởng, cô Nguyệt và xây dựng Tịnh Độ Ni Giới (bên tịnh xá Ngọc Tòng, Nha Trang) rồi chuyển chư Ni về ở. Năm 1970 tịnh xá Ngọc Túc giao lại cho Tăng, chư Ni về tịnh xá Ngọc Bảo (Tháp Chàm, Phan Rang). Năm 1973 tịnh xá Ngọc Hải cũng giao lại cho Tăng. Khi đức Thầy viên tịch vào tháng 7 năm 1971, bên Ni có 10 vị, trong đó 5 vị đã thọ giới Tỳ kheo ni. Năm 1972 Sư cô Hiệp Liên được của về trụ trì tịnh xá Ngọc Trung (An Khê).

Đến năm 1981, chư Ni có khoảng 50 vị, với số lượng đông như thế cần có sự quản lý dễ dàng nên từ đó đến nay bầu ra Ban lãnh đạo Ni giới của Giáo đoàn:

Nhiệm kỳ I (1981- 1984): Trưởng ban SC. Hiệp Liên, Phó ban SC. Tưởng Liên, Thư ký SC. Đền Liên.

Nhiệm kỳ II (1985- 1989): Trưởng ban SC. Đền Liên, Phó ban SC. Tưởng Liên, Thư ký SC. Hiệp Liên.

Nhiệm kỳ III (1990- 1994): Trưởng ban SC. Hiệp Liên, Phó ban SC. Tưởng Liên (viên tịch ngày 29 tháng 4 âl năm 2010), Thư ký SC. Đền Liên (đến năm 1992), SC. Cảnh Liên (từ năm 1992).

Mùa Vu lan ngày 14 tháng 7 năm 2010, Ni chúng Giáo đoàn III đã bầu ra hệ thống tổ chức của Ni chúng như sau:

+ Ban Quản sự: Trưởng ban: NS. Hiệp Liên. Phó ban: NS. Đền Liên, NS. Cảnh Liên, NS. Thông Liên.

+ Ban Thư ký: SC. Hiếu Liên, SC. Loan Liên, SC. Hoa Liên, SC. Chánh Liên.

+ Ban Giám Luật: Trưởng ban: NS. Cảnh Liên. Phó ban: NS. Thông Liên. Ủy viên: NS. Dung Liên, NS. Lãnh Liên, NS. Tỉnh Liên, NS. Hạnh Liên.

+ Ban Hoằng pháp: Trưởng ban: NS. Cảnh Liên. Phó ban: NS. Dung Liên. Ủy viên: NS. Tỉnh Liên, NS. Lãnh Liên, SC. Hiếu Liên, SC. Thùy Liên, SC. Chánh Liên, SC. Hoa Liên, SC. Loan Liên, SC. Hợp Liên.

+ Ban Thủ quỹ: Trưởng ban: NS. Thông Liên. Phó ban: SC. Chí Liên.

+ Hội đồng Tỳ kheo Ni: 1. NS. Hiệp Liên, 2. NS. Đền Liên, 3. NS. Cảnh Liên, 4. NS. Thông Liên, 5. NS. Dung Liên, 6. NS. Tỉnh Liên, 7. NS. Lãnh Liên, 8. NS. Hạnh Liên, 9. NS. Luật Liên, 10. NS. Chuyên Liên, 11. NS. Mẫn Liên, 12. NS. Ngộ Liên, 13. NS. Lạc Liên, 14. NS. Hải Liên, 15. SC. Ân Liên, 16. SC. Hiếu Liên, 17. SC. Chí Liên, 18. SC. Loan Liên, 19. SC. Hợp Liên, 20. SC. Hiền Liên, 21. SC. Chánh Liên, 22. Thùy Liên.

Hiện tại Giáo đoàn III có 80 ngôi tịnh xá và 3 tịnh thất (trong đó Tăng có 44 ngôi tịnh xá, 3 ngôi tịnh thất), 159 Tỳ kheo, 80 Sa di (trong đó có : 1 Hòa Thượng và 12 Thượng tọa, ngoài ra còn có 80 Tập sự) ; 157 Tỳ kheo ni, 15 Thức xoa, 26 Sa di ni (trong đó có 20 Ni sư, ngoài ra còn có 100 vị Tập sự ni). Tổng cộng Tăng Ni của Giáo đoàn 437 vị (không tính Tập sự).

Tăng Ni trẻ của Giáo đoàn III có trình độ: Tiến sĩ 9 vị (5 vị đã tốt nghiệp), Thạc sĩ 7 vị (1 đã tốt nghiệp), Cử nhân 72 vị (Tăng 35), Cao đẳng 18 vị, Trung cấp 30 vị.

So với các Giáo đoàn khác, giáo đoàn III có hai đặc điểm nổi bậc:

  1. Truyền đạo đến đồng bào dân tộc thiểu số Tây nguyên.

Vào những năm 1978- 1980 thầy Thiện Ý (nay là ĐĐ. Giác Sỹ, trụ trì tịnh xá Ngọc Khánh, tỉnh Đăk Lăk) lần đầu tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số Êđê và Mán (còn gọi là Dao) liền chọn một người Kinh lấy chồng dân tộc Êđê tại buôn (làng) Suk Mrang, huyện Cư Mgar làm chỗ dựa cho việc hoằng pháp. Rồi nhiều lần vào thăm viếng, tặng quà gây tình cảm thân thiện với họ, đồng thời học tiếng Êđê để giao tiếp. Vốn trước những năm 1975, Sư từng học trong trường đại học Y khoa nên biết về bệnh tật và trị liệu. Những năm 1981- 1990 Sư đã vào buôn chữa bệnh thông thường tặng quần áo, gạo tiền…cho dân làng, khuyên họ sống hợp vệ sinh, dời chuồng nuôi gia súc từ dưới nhà sàn ra bờ rào, tối lại mời họ ăn bánh kẹo luôn tiện nói chuyện đạo lý. Lúc đầu vài gia đình tập chung nghe Sư giảng, sau đến 20 gia đình. Khi hiểu được đạo, 70 người trong buôn xin quy y Tam bảo và cúng dường đất để lập tịnh thất.

Cũng trong giao đoạn này, Sư làm quên với dân tộc Mán ở làng bên cách khoảng 3km. Cũng với phương thức hành đạo kết hợp như trên được họ hết lòng mến mộ Phật pháp rồi xin quy y Tam bảo, cúng dường đất và nhà để làm tịnh thất tạo điều kiện thuận tiện cho việc hướng dẫn họ tu học theo đạo Phật.

Sau đó, vào những năm 1990- 2000, một số Phật tử đã quy y trên hiểu được Phật pháp, họ thường về các tịnh xá Ngọc Quang, Ngọc Khánh ở TP. Buôn Ma Thuột tham dự các ngày đại lễ như Phật đản, Vu lan…Những năm lại đây, Đại đức đã dịch một số kinh sách sang tiếng dân tộc Êđê để giúp họ hiểu sâu hơn về giáo lý, về nghi lễ, như năm 2004 dịch quyển Lịch sử đức Phật Thích ca và giáo pháp của Ngài, năm 2009 dịch quyển Nghi thức tụng niệm của Hệ phái Khất sĩ.

Cuối năm 2009, thời tiết bất thường đến với đồng bào Tây nguyên điển hình là cơn bão số 9 đã gây ra lụt lôi làm thiệt hại rất lớn cho nhân dân vùng này, nơi bị nặng nhất là xã Ia Broái, huyện Ia Pal, tỉnh Gia Lai. Đồng bào xã này hầu hết là dân tộc thiểu số Jarai. Nhân chuyến đi cứu trợ đến xã này chúng tôi có duyên quen biết với gia đình tên Anin. Qua trao đổi và giảng giải về Phật pháp gia đình anh vốn có túc duyên với Phật giáo nên cho người con tên Kpă Yăo (pháp danh Tâm Pháp) và 1 người cháu tên K’ Sor Khư (pháp danh Huệ Hiền) theo chúng tôi xuất gia tu học. Hiện 2 chú tiểu đang ở tịnh xá Ngọc Phúc (tỉnh Gia Lai) và đang học lớp 5.

  1. Hoạt động ra miền Bắc

Đại đức Giác Yên (Giác Vân) thế danh Đỗ Danh Thuật, sinh năm 1943 người Hà Nội, sau khi tìm hiểu Phật pháp, duyên lành đầy đủ, năm 1998 vào miền Trung xin Thượng tọa Giác Trí (trụ trì tịnh xá Ngọc Sơn, Tuy Phước, Bình Định) làm đệ tử và xuất gia tu học tại đây. Năm 2003 được toàn thể Phật tử xã Yên Bình (huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) cung thỉnh và chính quyền địa phương chấp nhận Đại đức làm trụ trì chùa Nội (tức tịnh xá Phúc Lâm). Hiện nay, Tăng chúng tại trú xứ 2 vị, diện tích tịnh xá rộng 2.600m vuông, khoảng 400 người Phật tử đã quy y. Mỗi tháng có khóa tu thiền, tu hội Dược Sư với nhiều Phật tử tham gia. Đại đức mở khóa tu cho lớp trẻ và thực hiện rất tốt công tác từ thiện tại địa phương.

Năm 2002, cô Nguyễn Thị Bảy (sau quy y có pháp danh Ngọc Bằng) ở xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhân vào tỉnh Đăk Lăk thăm con, đến viếng tịnh xá Ngọc Quang (TP. Buôn Ma Thuột), thấy truyền thống Hệ phái Khất sĩ tụng kinh nghĩa, khi cúng hội và cúng Trai tăng cầu an, cầu siêu v.v… đều có thời gian để chư Tăng Ni giảng giải kinh pháp đạo lý… nên từ đó mến mộ giáo pháp Khất sĩ. Ngày mùng 7 tháng 8 2006 cô thỉnh HT. Giác Dũng (Trưởng Giáo đoàn III, trụ trì TX. Ngọc Quang) về tư gia thăm, mấy chục người dân nghe tin cũng đến tìm hiểu, trong số ấy có vài chục người xin quy y trở thành Phật tử. Từ đó đến nay, các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Nghĩa Đàn… của Tỉnh Nghệ An có khoảng 700 Phật tử đã xin HT. Giác Dũng cùng Đại đức Giác Trực, Giác Chính quy y và được 2 vị Đại đức này hướng dẫn tu học theo từng đạo tràng.

Giáo pháp Khất sĩ không chỉ ở tỉnh Nghệ An, mà còn được nhiều người ở miền Bắc tìm hiểu học hỏi trong đó có Đạo tràng cô Nguyễn Thị Diễn tại tiểu khu 14, phường Nam Lý, TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Năm 2003 được đủ duyên lành cô đến tịnh xá Ngọc Tòng (Nha Trang) xin TT. Giác Phùng (trụ trì tịnh xá) quy y với pháp danh Ngọc Phúc. Sau đó khoảng 30 thiện tín tại địa phương cũng phát nguyện quy y Tam bảo và tập trung thành đạo tràng Ngọc Phúc sinh hoạt tu học đến nay.

Trích “Tìm Hiểu Về Hệ Phái Khất Sĩ” của ĐĐ Tiến Sĩ Thích Giác Duyên

Giác Minh Luật

Bài viết khác:

  1. Vài Nét về Giáo Đoàn III Khất Sĩ
  2. Triển Lãm Nghệ Thuật Phật Giáo
  3. Danh Mục Tịnh Xá Thuộc Giáo Đoàn III Khất Sĩ
  4. Đôi Nét về Tịnh Xá Ngọc Phúc (Giáo Đoàn III)
  5. Tiểu sử Đức Thầy Giác An – Trưởng Giáo đoàn III Khất Sĩ (1901-1971)

Phản hồi - Ý kiến