Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Giác Đăng

08/03/2011 // No Comment // Views: 1 019 views // Categories: Bài Viết + Tịnh Xá + Tiểu Sử, Giáo Đoàn III KS // Tags: .

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC ĐĂNG

(1944 – 2011)

Giác tha độ khắp ta bà

Đăng minh chiếu diệu Ba-la-mật thiền

Giác hạnh viên mãn thường nhiên

Đăng minh thường tại cõi thiền vô sanh.

1. Thời niên thiếu

Hòa thượng Thích Giác Đăng, thế danh Võ Luân, sinh năm Giáp Thân (1944) tại thôn Phú Châu, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài là con trưởng trong gia đình 6 người con, thuần nông chất phác. Thân sinh là cụ ông Võ Dư và cụ bà Nguyễn Thị Dư.

2. Thời kỳ xuất gia và thọ giới

Năm 1965, Ngài gặp được đoàn Du tăng Khất Sĩ Giáo đoàn III do đức Thầy Giác An dẫn đầu, hành đạo tại miền cao nguyên Trung phần. Ngay từ buổi đầu gặp gỡ, hình ảnh nhà Du Tăng Khất Sĩ với bát đất, y vàng sống đời thanh bần, giải thoát đã in dấu đậm nét trong tâm trí Ngài. Cảm phục đức độ, tài năng của đức Thầy Giác An, hoa tâm Bồ-đề của Ngài bấy giờ bừng nở rộ. Ngài đến xin đức Thầy cho phép được xuất gia, nhập đạo và được làm lễ thí phát xuất gia vào ngày Rằm tháng 7 năm Ất Tỵ (1965) tại Tịnh xá Ngọc Phúc, Pleiku, Gia Lai.

Sau hơn 6 tháng nhập đạo, với đức hạnh nghiêm trang, tinh tấn tu học, nhân dịp lễ tưởng niệm đức Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng lần thứ 12 năm Bính Ngọ (1966) tại Tịnh xá Ngọc Quang, Buôn Mê Thuộc, Daklak, Ngài được đức Thầy Giác An truyền trao giới pháp cùng y bát Sa-di với pháp danh Giác Đăng. Vào ngày Tự Tứ năm Canh Tuất (1970) được tổ chức tại Tịnh xá Ngọc Bảo, Tháp Chàm, Phan Rang, Ngài được đức Thầy Giác An cùng Giáo hội chứng minh truyền trao giới pháp Tỳ-khưu.

3. Thời kỳ du phương hành đạo

Sau ngày thọ lãnh giới pháp Tỳ-khưu, Ngài hành đúng theo lời dạy của đức Phật: “Hãy du hành vì sự an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người”, và thực hành gương hạnh của đức Tổ sư với tam y nhất bát, Ngài vân du khắp các nẻo đường duyên hải, cao nguyên miền Trung cũng như đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1970, Ngài được Giáo đoàn cử về hành đạo tại Tịnh xá Ngọc Pháp, Nha Trang và các miền lân cận.

Năm 1975, Ngài được Giáo đoàn cử về hành đạo tại Tịnh xá Ngọc Đức (đảo Lý Sơn), xã Bình Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Đến năm 1978, Ngài rời Tịnh xá Ngọc Đức, hướng phía đồng bằng sông Cửu Long cất bước đăng trình. Ngài hành đạo tại xã Đông Sơn và các nơi lân cận thuộc vùng Thất Sơn, An Giang.

Sau hơn 10 năm hành đạo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, đến năm 1989, Ngài trở về trụ tại Tịnh xá Ngọc Tòng, Vĩnh Lương, Nha Trang.

4. Thời kỳ trụ xứ

Năm 1993, Ngài được Giáo đoàn cử về trụ trì Tịnh xá Ngọc Pháp, TP. Nha Trang cho đến nay.

Được sự tín nhiệm của chư tôn đức lãnh đạo cũng như Tăng Ni, Hòa thượng được tấn phong Giáo phẩm Hệ phái năm 1997.

Cùng năm 1997, Hoà thượng được Ban trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hoà mời vào Phó ban Trị sự Phật giáo tỉnh. Gần 14 năm gắn bó với công tác Phật sự tại địa phương, lúc nào Hòa thượng cũng nêu cao tinh thần nhiệt huyết, vô ngã, ra sức cống hiến cho sự nghiệp chung của tỉnh hội, góp phần xây dựng cho Phật giáo tại địa phương ngày một vững mạnh.

Sau ngày Trưởng lão Giác Phúc viên tịch (năm 2005), nhận thấy Hòa thượng là bậc tôn đức cao niên, đủ tâm đức và chí nguyện phụng sự Tăng đoàn, chư Tăng Ni trong Giáo đoàn đã nhất trí đề cử Ngài làm Phó trưởng Giáo đoàn III hệ phái Khất Sĩ.

5. Hạnh lành gương quý

Từ ngày xuất gia nhập đạo, Ngài sống rất đơn giản, thanh bần, tu tập tinh chuyên, khép mình trong giới luật. Oai nghi lúc nào cũng trang nghiêm, đĩnh đạc. Hàng ngày, Ngài luôn luôn hành trì hạnh khất thực, tham thiền, nhắc nhở chúng Tăng, giảng dạy cho cư gia bá tánh, hoằng truyền giáo pháp.

Ngài là người rất nhiệt huyết, tinh cần tu tập, cống hiến hết mình cho đạo pháp, nhẫn nại trên bước vân du. Đối với Giáo đoàn, Ngài rất quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức cho chư vị Sa-di, tập sự, xiển dương tinh thần nghiêm trì giới luật, chuyên tu giải thoát, nêu cao gương hạnh tam y nhất bát, khất thực du phương, nghiên cứu kinh, luật, luận.

Ngài lấy bộ Chơn lý của Tổ sư làm nền tảng để tu học và hướng dẫn cho chư vị mới xuất gia cũng như Phật tử hữu duyên cố gắng vâng theo lời dạy của Tổ Thầy mà hành trì. Những năm cuối đời, tuy tuổi cao sức yếu, bệnh tật hoành hành nhưng Ngài vẫn luôn có mặt trong những cuộc họp Tăng của Giáo đoàn và Hệ phái để chung tay, góp sức với chư tôn đức lãnh đạo Giáo đoàn, Hệ phái giải quyết công việc, xây đựng Giáo đoàn, Hệ phái ngày càng vững chãi hơn, sách tấn cho chư Tăng Ni, Phật tử giữ tròn bổn nguyện, tinh tấn tu hành.

6. Thời gian thọ bệnh và viên tịch

Thuận theo lý vô thường, thân tứ đại ngày một tan hoại. Tháng Giêng năm Mậu Tý (2008), Hòa thượng thọ bệnh.

Khoảng thời gian 3 tháng trước khi Hòa thượng viên tịch, bệnh tình Ngài chuyển nặng. Nhưng với sức kiên trì nhẫn nại tu tập trong suốt bao nhiêu năm, Ngài vẫn kiên định trước nỗi đau của thể xác mà không hề ưu não, than van.

Vào lúc 2 giờ 35 phút sáng ngày mùng 2 tháng 2 năm Tân Mão (4/3/2011), Hòa thượng đã xả bỏ báo thân tại tịnh cốc Tịnh xá Ngọc Pháp, TP. Nha Trang tỉnh Khánh Hoà; trụ thế 68 năm, hạ lạp 41 năm.

Giác ngộ huyễn trần ly sắc tướng

Đăng tâm phổ chiếu nhập chơn như

Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng về tinh thần tinh tấn nghiêm trì giới luật, hành trì tứ y Pháp và chí nguyện lợi sinh hoằng hóa, nhất là sự chịu đựng vượt qua những thử thách của nghiệp lực tự thân, là một tấm gương sáng cho chư Tăng Ni, Phật tử môn đồ pháp quyến noi theo.

Toàn thể Tăng Ni, môn đồ pháp quyến nguyện noi theo gương hạnh Ngài tinh tấn trên bước đường tu học và lợi sinh.

Toàn thể đại chúng và môn đồ pháp quyến đồng kính nguyện giác linh cố Hòa thượng cao đăng Phật quốc, thể nhập cõi vô sanh.

Kính lạy giác linh Hòa thượng thùy từ chứng giám.

Môn đồ pháp quyến đồng thể thủ kính soạn

Bài viết khác:

  1. Tiểu Sử của Hòa Thượng Thích Giác Thường
  2. Hòa Thượng Thích Giác Đăng Đã Viên Tịch
  3. Tiểu Sử Cố HòaThượng Thích Giác Sự
  4. Buổi Lễ Húy Kỵ Cố Hòa Thượng Thích Giác Sự
  5. Tiểu sử Đức Thầy Giác An – Trưởng Giáo đoàn III Khất Sĩ (1901-1971)

Nơi chia sẻ của bạn: