Người Con Khất Sĩ

13/03/2011 // No Comment // Views: 49 views // Categories: Tùy Bút KS, Đặc biệt, Đạo Phật Khất Sĩ // Tags: .


(TXNM): Thời kì đất nước ta còn trong giai đoạn chiến tranh loạn lạc năm 1944, hình bóng của một nhà du tăng Khất sĩ khoác trên mình tấm y vàng bá nạp, ôm trên mình một bình bát đất đi trì bình trên mọi nẻo đường, hình ảnh đó như đã làm sống lại cái thời khi Phật còn tại thế khi bước đầu hành đạo, ngài du hóa trên khắp xứ Ấn Độ để trì bình khất thực giáo hóa độ đời.

Nhà du tăng Khất sĩ đầu tiên đức Tôn sư Minh Đăng Quang đã làm sống cái vẻ đẹp cao quý mà đã có trên 25 thế kỉ nay của một bậc sống đời phạm hạnh. Nó như một tiếng chuông cảnh tỉnh, một tiếng trống giục liên hồi cho những ai còn đang mải chạy theo danh lợi hào nhoáng bên ngoài. Nó nhắc cho mọi người biết trên đời này vẫn có những bậc thoát trần thượng sĩ với chí nguyện nối truyền chánh đạo, thủ thực thanh bần, hy sinh cuộc đời mình để pháp bảo của Như lai được mãi mãi trường tồn trên thế gian này. Ngài luôn sống theo hạnh nguyện:

Tăng khất thực, một ngày ăn một bữa,

Không bạc tiền, không nhà cửa lợi danh,

Là tiếng chuông cảnh tỉnh cả quần sanh,

Là đánh thức cõi trần đang say ngủ.

Trích “Tứ kệ tĩnh tâm” tr.20.

Đúng theo hạnh nguyện đó, Đức Tôn Sư đã không ngại khó khăn gian khổ, sự dèm phá của thế sự,  Ngài vẫn hiên ngang vững bước, từng bước chân của an lạc và giải thoát. Ngài đem chân lý đại đồng và một tình thương bình đẳng, một trái tim vị tha của Bồ-tát để reo rắc khắp muôn nơi, vì chúng sanh muôn loại, vì mối đạo sau này, nên Ngài vẫn hiên ngang dũng tiến.

Sau một thời gian hóa đạo Ngài đã thu nhận rất nhiều đệ tử tài ba, đạo lực kiên cường, để cùng Ngài sống theo hạnh nguyện làm người du tăng Khất sĩ giáo hóa độ đời, từ đó tăng đoàn của Đức Tôn Sư đã bắt đầu thành lập.

Người khất sĩ gót lữ hành dũng tiến,

Bước phiêu linh, lấy bốn biển làm nhà.

Lấy chín châu làm sự nghiệp độ tha,

Quyết thực hiện chí tang bồng hồ thỉ.

Trích “Tứ kệ tĩnh tâm” tr.147

Ánh đạo vàng nối truyền Thích Ca Chánh Pháp của Tôn Sư được hoằng hóa khắp muôn nơi, đâu đâu cũng xuất hiện hình bóng của nhà du tăng Khất sĩ mỗi buổi sáng, trên các nẻo đường miền Trung-Nam thời bấy giờ. Mọi người ai ai cũng được nhìn thấy hiện thân của tăng đoàn thời đức Phật được Tôn Sư phát họa lại một cách sâu sắc và sinh động, đều phát tâm quy ngưỡng và kính phục. Tăng đoàn của Tôn Sư như một chiếc thuyền Bát-nhã đang chèo lái khắp muôn nơi không ngại sóng to, gió lớn để cứu vớt những ai còn đang trồi hụp trong biển đời sanh tử đầy ô trược.

Sáng ngày 1 tháng 2 năm 1954 cả bầu trời như u buồn mờ mịt, khi đức Tôn Sư từ giã và ra đi biền biệt. Biết bao nhiêu ánh mắt đang ngậm ngùi chứa chan dòng lệ để đưa tiễn Tôn Sư. Ngài dặn dò lần cuối: “Các con hãy ở lại mà mở mang mối đạo, giáo hóa chúng sanh, đền ơn chư Phật. Ấy là các con theo Thầy, làm vui lòng Thầy nơi xa vắng. Rồi một ngày kia Thầy sẽ trở về”.

Những lời giáo huấn đó như một niềm an ủi sau cùng, và kể từ ấy cả tăng đoàn đã thật sự mất đi một bậc Thầy hướng đạo khả kính. Bơ vơ lạc lõng, giờ đây chỉ còn lại chăng là những dư âm. Những lời dạy cao quý của Tôn Sư, để mỗi mùa trôi qua những lần tưởng niệm với những ánh mắt chứa chan dòng lệ thương tiếc vô vàn, luôn mong mỏi Tôn Sư sẽ có một ngày trở về.

Muối xát lòng con lệ sụt sùi,

Nhớ Thầy vặn thắt dạ nào nguôi.

Thầy đi biền biệt không tin tức,

Con ở bơ vơ luống ngậm ngùi.

NT. Bạch Liên “Mong Thầy”

Biết bao năm tháng trôi qua, với biết bao con tim đang mòn mỏi đợi chờ tin Thầy trở về mà có được đâu, hay chỉ là những dòng lệ tiếp tục tưởng nhớ Tôn Sư.

Nhưng với tinh thần dõng mãnh và nghị lực kiên cường, từ ngày Đức Tôn Sư vắng bóng, những hàng đệ tử của ngài thay nhau tiếp nối ngọn đèn chánh pháp, luôn sống theo lời dạy của ngài: “Đạo Phật là sự thật để thành Phật, là sự tu giống y theo Phật. Con đường ấy là Khất sĩ, là tăng, là đệ tử Phật sau này, là giới luật y bát chơn truyền vậy”. Các ngài luôn khắc sâu lời dạy của Tôn Sư sống đời phạm hạnh, nối truyền chánh đạo của chư Phật, làm người con Khất sĩ. Sau khi được truyền thừa một gia tài pháp bảo cao quý của Tôn Sư, từ đó cho đến ngày nay các ngài đã chia ra 6 giáo đoàn tăng và 3 phân đoàn ni để hành đạo khắp ba miền “Nam- Trung –Bắc”. Đem ánh sáng của Khất sĩ, chân lý của tình thương để ban rải khắp muôn nơi, bất chấp mọi khó khăn gian khổ nhưng các ngài cũng vẫn hiên ngang vươn mình vì đạo.

Người khất sĩ đem pháp lành ran rải,

Nhắc khuyên đời đừng tạo nghiệp gây nhân.

Ở trong trần mà tâm chẳng nhiễm trần,

Thật xứng đáng là người con vũ trụ.

Trích “Tứ kệ tĩnh tâm” tr.150

Ngày nay đã là thời bình, nhưng hình bóng của nhà du tăng Khất sĩ ôm bát đi xin trên mọi nẻo đường đã dần dần bị phai mờ. Thế nhưng cái tinh hoa và nét đẹp thanh cao của người Khất sĩ thì mãi mãi trường tồn trong tâm thức của những người con sau này đang được thừa hưởng và kế thừa cái gia tài cao quý mà đức Tôn Sư và những bậc thầy đã khổ công gầy dựng và trao truyền giữ gìn cho tới ngày hôm nay.

Dẫu nước non thay đổi bóng trăng mờ,

Đời khất sĩ vẫn là đời giải thoát.

Cố TT.Giác Huệ

Mặc cho hoàn cảnh có đổi thay, thế sự có thăng trầm nhưng hình bóng của những bậc thoát trần thượng sĩ đầu trần chân đất, phất phới huỳnh y, ôm bát trì bình sẽ là những hình ảnh cao thượng nhất để những người con Khất sĩ sau này luôn lấy đó làm niềm tin để tiếp tục ấp ủ chí nguyện nối truyền chơn lý, hoằng dương chánh đạo của Tôn Sư, mà vững mình dũng tiến tiếp nối ngọn đèn chánh pháp của chư Phật được mãi trường tồn thắp sáng trên thế gian này từ đây cho đến muôn vạn kiếp sau.

Giác Minh Luật

Bài viết khác:

  1. Người Khất Sĩ
  2. Ý Nghĩa Khất Thực của Hệ Phái Khất Sĩ
  3. Tìm Hiểu Tư Tưởng Giáo Dục của Hai Từ Khất Sĩ
  4. Vài Nhận Định về Hệ Phái Khất Sĩ
  5. Trình Bày Truyền Thống Ba Y Bình Bát Khất Thực của Chư Phật Tăng

Phản hồi - Ý kiến