Những Điều Hy Hữu Liên Quan Đến Đức Phật Đản Sanh

13/05/2011 // No Comment // Views: 17 views // Categories: Giáo Lý, Tu Học // Tags: .

Các bản kinh liên hệ đến sự kiện đức Thế Tôn đản sanh trong Chánh tạng không nhiều. Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp (số 123) trong Trung Bộ Kinh do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là một trong những bản kinh mô tả sự kiện liên quan đến Đức Phật đản sanh nhiều nhất.

Nếu chúng ta ta bản kinh trong hệ Nikaya so sánh với Kinh Vị Tằng Hữu Pháp (32) trong Trung A Hàm do Thượng tọa Tuệ Sỹ dịch, chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác biệt. Việc đối chiếu 2 bản kinh văn và một vài nguồn sử liệu khác, giúp chúng ta hiểu rõ hơn vài vấn đề liên quan đến việc đản sanh của Đức Phật. Người viết kể lại tất cả những điều hy hữu mà trong bản Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp trong Trung Bộ Kinh làm điểm mốc để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu.

(1)   Chánh niệm tỉnh giác, Bồ Tát sanh trong Thiên chúng Tusita.

(2)   Chánh niệm tỉnh giác, Bồ Tát an trú trong Thiên chúng Tusita.

(3)   Chánh niệm tỉnh giác, Bồ Tát an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng.

(4)   Chánh niệm tỉnh giác, Bồ Tát sau khi từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai.

(5)   Khi Bồ Tát nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên, thế giới của các Ma Vương và Phạm Thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa Môn, Ba La Mật, chư Thiên và loài Người. Cho đến các thế giới ở giữa các thế giới tối tăm, u ám không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, với đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy nhờ hào quang mới thấy nhau và nói: “cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới.

(6)   Khi Bồ Tát nhập mẫu thai bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ Tát, hay mẹ vị Bồ Tát ”.

(7)   Khi Bồ Tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ Tát giữ giới một cách tự nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men.

(8)   Khi Bồ Tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ Tát không khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và mẹ Bồ Tát không bị xâm phạm bởi bất kỳ người đàn ông nào có nhiễm tâm.

(9)   Khi Bồ Tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ Tát tận hưởng năm dục công đức đầy đủ, tận hưởng trọn năm dục công đức.

(10) Khi Bồ Tát nhập mẫu thai, mẹ Bồ Tát không bị một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, vơi tâm khoan khoái. Bà thấy trong bào thai của mình vị Bồ Tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc ấy trên bàn tay của mình, người ấy sẽ thấy rõ ràng: “Đây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt, khéo dũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Đây là sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhợt”

(11) Sau khi sanh Bồ Tát bảy ngày, mẹ Bồ Tát mệnh chung và sanh lên cõi trời Đâu suất.

(12) Trong khi các người đàn bà khác, mang bào thai trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ Bồ Tát sanh Bồ Tát không phải như vậy. Mẹ Bồ Tát mang Bồ Tát trong bụng mười tháng rồi mới sanh.

(13) Trong khi các người đàn bà khác, hoặc ngồi hoặc nằm mà sanh con, mẹ Bồ Tát sanh Bồ Tát không phải như vậy. Mẹ Bồ Tát đứng mà sanh Bồ Tát.

(14) Khi Bồ Tát từ bụng mẹ sanh ra, này Ananda, chư Thiên đỡ lấy Ngài trước, sau mới đến loài người.

(15) Khi Bồ Tát từ bụng mẹ sanh ra, Bồ Tát không đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: “Hoàng hậu hãy hoan hỷ! Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân”.

(16) Khi Bồ Tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch; ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-ba-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-ba-nại, tấm vải Ba-ba-nại cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Tại sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh.

(17) Khi Bồ Tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng nước từ hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ cho Bồ Tát và cho bà mẹ.

(18) Bồ Tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lộng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”.

(19) Khi Bồ Tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào quang vô lượng thần diệu, hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm Thiên, và thế giới ở dưới gồm các Sa Môn, Bà La Môn, chư Thiên và loài người. Cho đến các cảnh giới giữa các thế giới, tối tăm, u ám, không có nền tảng, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời với đại thần lực, đại oai lực như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại các chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: “Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây”. Và mười ngàn thế giới này chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới.

(20) Các cảm thọ khơi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại.

LƯỢC GIẢI:

(1) Điểm lưu ý thứ nhất: Khái niệm Bồ Tát (P: Bodhisatta, S: Bodhisatva) được dùng trong bản kinh thuộc Trung Bộ là để chỉ cho một vị đang tu tập, hướng đến Phật quả. Vị ấy dẫu phước đức và trí tuệ hơn người, nhưng không có nghĩa là có thần thông, có đạo lực như khái niệm “Bồ Tát” bổ xứ như Quán Thế Âm, Bồ Tát Địa Địa Tạng trong kinh điển Đại Thừa. Bản A hàm (Agama) không dùng khái niệm Bồ Tát mà dùng từ Thế Tôn. Điều hy hữu thứ nhất trong bản A hàm khác với bản Nikaya: “Đức Thế Tôn vào thời Phật Ca Diếp (Kassapa), bắt đầu phát nguyện Phật đạo, th hành phạm hạnh”

(2) Đây là bản kinh do tôn giả Ananda được nghe Đức Phật tuyên thuyết và được chính Ngài Ananda trùng tuyên với sự chứng minh của Đức Phật tại Tịnh xá Kỳ Viên thành Xá Vệ. Hai bản kinh đều ghi địa điểm nhân duyên bản kinh ra đời giống nhau.

(3) Điểm thống nhất giữa các bản kinh trong Nikaya, Agama và các bản sớ giải sau này lính kiếp cuối cùng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trước khi giáng phàm làm kiếp người để viên mãn Phật quả đều ở trên cõi Trời Đâu Suất (Tusita). Điểm khác biệt giữa hai bản là bản A Hàm có ghi rằng đức Thế Tôn sinh lên cõi trời Đâu Suất, dẫn sau các thiên tử đã tái sanh trước, nhưng có ba việc thù thắng hơn, đó là thọ mạng, dung sắc và vinh dự nhà trời.

(4) Bản Nikaya nhấn mạnh đến tâm thức tu tập Bồ Tát ở trên Đâu Suất thiên cho đến vào mẫu thai đều chánh niệm tỉnh giác, không bị mê vọng động niệm nghiệp lực dẫn dắt chi phối như một người thường, mà ngược lại lúc nào cũng có ở trong trạng thái tu tập của một thiền giả.

(5) Hiện tượng điềm kiết tường xuất hiện khi Bồ Tát nhập mẫu thai vô cùng hy hữu. Bản A Hàm mô tả sự việc này hơi khác với bản Nikaya: “Chúng sanh ở các nơi ấy do thấy ánh sáng nhiệm mầu này đều mỗi mỗi phát sanh nhận nhận thức rằng: ‘Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!’”

(6) Điểm hy hữu thứ 6 trong Nikaya tuy không có trong bản A Hàm, nhưng nội dung có tính thuyết phục, vì phước lực của một vị Bồ Tát, nên chiêu cảm quả báo như vậy.

(7) Điểm hy hữu thứ 7. 8 Thánh Đạo và 9 không có trong bản A Hàm.

(8) Trong bản A Hàm lại cho rằng đức Bồ Tát biết mình thụ trong thai mẹ, tựa vào hông bên phải. Lưu ý điểm này, bản A Hàm chỉ nói đến Bồ Tát trong thai mẹ bên hông bên phải, không hề nói đức Bồ Tát sanh từ hông bên phải và bản hệ Nikaya cũng không nói sanh từ hông bên phải.

(9) Trong bản A Hàm lại cho rằng hình thể đức Bồ Tát duỗi dài trụ trong thai mẹ.

(10) Điểm hy hữu thứ 10 trong bản Nikaya ghi đầy đủ và chi tiết, liên hệ đến khả năng thấu thị đặc biệt của thân mẫu của Bồ Tát trong khi mang thai, trong khi bản A Hàm chỉ ghi: “Bồ Tát được bao che, trụ trong thai mẹ, không bị máu dơ làm ô uế, cũng không bị tinh khí các thứ bất tịnh khác làm cho ô  uế”.

(11) Mẫu thân Bồ Tát qua đời được tái sanh lên cõi trời Đâu suất. Mặc dù các bản kinh của hệ A Hàm cũng nói như vậy, nhưng trong bản kinh A Hàm không đề cập đến.

(12) Thời gian trụ trong thai mẹ trong bản A Hàm hoàn toàn không đề cập đến. Có một số vĩ nhân ở trong thai mẹ 12 bộ kinh tháng, 10 tháng hoặc chưa đủ tháng tuổi mà vẫn chào đời. Chuyện chào đời sớm hay muộn có thể thuộc về nhân duyên của hài nhi. Liên hệ đến vấn đề này, ông H.W.Schumann trong quyển Đức Phật lịch sử (The Historical Buddha) đã nhận định rằng: “Cuộc hành trình bằng xe ngựa hay xe bò cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức khiến cho việc lâm sản xảy ra sớm trước khi về đến Devadaha”(1) chỉ là giả định (có thể đúng mà cũng có thể sai). Đúng là vì trên thực tế đời thường, rất nhiều trường hợp phụ nữ mang thai vì hoàn cảnh khó khăn, làm lụng vất vả nên đã xảy ra trường hợp như vậy. Sai là vì Hoàng hậu Maya được thần dân trăm họ cung phụng, có thể được khiêng bằng kiệu, được chăm sóc chu đáo, không quá khổ cực như ông tưởng tượng.

(13) Trong bản A Hàm không đề cập đến hy hữu thứ 13 trong bản kinh Nikaya, nhưng trong các sử truyện lại còn mô tả chi tiết hơn, không đơn giản là mẫu hậu đứng sanh, mà Ngài còn được sanh từ hông bên phải. Chuyện sinh đứng, sinh ngồi hay sinh nằm thiết nghĩ do nhân duyên mỗi người, vì ngày nay cũng có một số người do hoàn cảnh đi đứng mà cũng có thể sinh con khi đứng, nhưng những nhận định giả định như “Hình như sinh con lúc đứng là một phong tục thời ấy” (Đức Phật Lịch sử) là những phát biểu không có cơ sở.

(14) Điểm hy hữu thứ 14 trong bản A Hàm mô tả chi tiết và thần kỳ hóa hơn: “Khi đức Thế Tôn mới sanh ra, có bốn vị thiên tử, tay cầm tấm vải rất mịn đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: Đồng tử này rất kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hữu, có đại oai thần”.

(15) Điểm thứ 15 và 16 trong Nikaya không đề cập trong A Hàm.

(16) Cả hai bản đều thống nhất về điều hy hữu thứ 17. Khi Bồ Tát sinh ra có hai dòng nước nóng lạnh từ trên trời phun xuống để tắm cho Ngài. Huyền thoại chín rồng phun nước có lẽ xuất hiện trong văn học Trung Quốc, vì họ cho rồng là một loại linh vật và mưa hoa là điềm kiết tường. Phật giáo Tây Tạng cũng có đồng quan điểm này. Mỗi khi làm một thiện sự gì có mưa phùn hay có những vầng mây có hình dáng như rồng, họ xem đó là một điều hy hữu, điềm đại kiết tường.

(17) Bản A Hàm lại ghi thêm: “Khi đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, thì ngay phía trước người mẹ bỗng hiện một hồ nước lớn, nước đầy tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi ấy được thọ dụng thanh tịnh”. Chính vì điều này mà ngày nay bên trụ đá Asoka tại Lumbini – nơi đánh dấu Đức Bồ Tát đản sanh lại có hồ nước và cho rằng đó là một trong những điều hy hữu của Đức Bồ Tát khi đản sanh.

(18) Điều hy hữu  thứ 18 bất cộng pháp, cả hai bản đều có đề cập đến nhưng bản A Hàm chỉ ghi: “Khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương”. Như vậy, câu tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sanh tử, nhiều kim tận hĩ” không có trong bản kinh A Hàm này.

(19) Điều hy hữu  thứ 19 trong bản A Hàm lại ghi như thế này: “Khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, chư Thiên ở trên hư không tấu lên âm nhạc của Trời; hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa Văn-đà-la của trời, và bột hương chiên đàn được rải lên Đức Thế Tôn.”

(20) Cuối bản kinh của bản A Hàm cũng nói đến điều hy hữu  thứ 20 trong bản Nikaya, nhưng bản A Hàm lại ghi cách khác: “Như Lai biết thọ sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết, chẳng có lúc nào chẳng biết. Này A-nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết. Không lúc không biết”. Rõ ràng hai bản này hoàn toàn khác nhau mà tại sao phải trình bày điều hy hữu này?

(21) Còn 10 điều hy hữu  nữa trong bản A Hàm liệt kê từ lúc Bồ Tát còn 7 tuổi theo phụ vương làm lễ hạ điền cho đến những ngày du hóa, hoằng pháp của Đức Phật. Rõ ràng bản Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp trong bản Nikaya tập trung hơn, mô tả những sự kiện hy hữu liên quan đến việc đản sanh của Bồ Tát hơn là những hy hữu  trong suốt quá trình hoằng pháp du hóa của Đức Phật.

Cứ vào mùa Phật đản, có người đặt vấn đề, làm thế nào Đức Thích Ca Mâu Ni đản sanh từ hông bên hữu của mẫu hậu Maya, và đi 7 bước và tuyên bố những câu ngoài sức tưởng tượng của loài người. Cho tới bây giờ, những điều đó vẫn là thách đố đối với giới sử học Phật giáo. Làm sao biết được, những điều hy hữu đó chỉ là những triết lý mà nhà biên tập kinh điển muốn gửi gắm hay là những sự kiện đã xảy ra thật đối với một Đức Phật lịch sử, hay là những huyền thoại được gán cho một bậc vĩ nhân được loài người tôn vinh là Đấng Giác Ngộ trọn vẹn? Câu trả lời thật khó và không thể nào nhất quán, khi mỗi người nhìn Đức Phật dưới góc độ khác nhau: Đức Phật lịch sử hay Đức Phật tôn giáo.

Theo: Đuốc Sen- Thiện Tường

Bài viết khác:

  1. Những Nguyên Tắc Cơ Bản Của Thiền Quán
  2. Những Hạnh Nguyện Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm
  3. Con Đường Tiến Hóa Của Chúng Sanh
  4. Đạo Phật Khất Sĩ: Những Thách Thức trong Quá Trình Hội Nhập và Phát Triển
  5. 10 Điều Dạy của Tổ Sư Minh Đăng Quang

Phản hồi - Ý kiến